Ý kiến GV

Không biết các bạn có sợ giấy tờ không chứ riêng bản thân tôi, thấy giấy tờ là tôi phát ớn. Mỗi mùa hè về lục soạn lại đống hồ sơ tôi choáng ngợp trong rừng giấy tờ đủ loại. Mà tôi chỉ mới là GV thôi, nghĩ đến người khác, tôi thấy thương hại cho các Phó Hiệu trưởng hay tổ trưởng vì giấy tờ còn nhiều hơn tôi bội phần. Tôi nêu vấn đề này ra để làm gì? Điều tôi muốn trình bày ở đây là vấn đề giáo án in vi tính. Tôi thấy một điều cực kỳ vô lý và gây tốn kém khá nhiều cho GV đó là: hàng năm cứ phải in đi in lại các trang giáo án mà nhiều khi GV chỉ làm có một việc đơn giản là sửa đổi ngày soạn, giảng. (Các bạn có thấy vô lý không?). Tôi thấy nếu dành thời gian sửa và in đó để cho GV đọc lại giáo án còn tốt hơn, đỡ phí tổn hơn. Nếu có gì chưa tốt trong GA cũ thì ghi bổ sung (bằng tay). Tôi thấy xót xa tiếc của khi mỗi đầu năm học, ngồi rút từng trang giáo án trong kẹp GA ra rồi thay vào những trang mới được in lại, chẳng có khác gì mấy so với GA cũ. Nếu những tốn kém của ta là hữu ích thì không ai nề hà, tiếc của, chẳng hạn như in những nội dung gì hay có trên mạng. Đằng này phải in đi in lại những gì đã có sẵn, đã được in rồi, chẳng khác gì bản photo copy cả. Vậy mà người ta lại không cho photo (tôi cũng hiểu điều đó là tất nhiên rồi, nhưng tôi không hiểu những người kiểm tra GA là người hay là máy để không hiểu rằng nhiều bản in GA không khác gì với bản photo, về mặt ý nghĩa). Thời kỳ còn chép GA thì tôi đồng ý với quan điểm của thanh tra là chép để có cơ hội đọc, chứ còn GA in vi tính thì tình hình đã khác, sao họ chậm thay đổi đến thế.
Với tôi GA mỗi tiết dạy chỉ soạn từ 1- 2 trang A4 (mỗi tuần tôi có đến 10 tiết GA), còn nhiều GA trên mạng tôi thấy có người soạn đến 4-5 trang thì không biết sự lãng phí còn tăng đến đâu. Mà tôi cũng không hiểu trong 1 tiết dạy chỉ có 45 phút, làm sao người ta có thể chuyển tải nội dung của 5 trang A4 đến cho HS cấp THCS ( hay là họ in ra để đối phó với những thanh tra kiểm tra GA bằng cách “đo gang”). Ở trường tôi nhiều lần GV chúng tôi đã đề nghị GA soạn bằng vi tinh được sử dụng trong 2-3 năm nhưng chẳng được cấp trên trả lời.
Tôi rất hoan nghênh và cổ vũ cho Bài giảng điện tử. Việc soạn GA bằng word, in ra (nhiều lần) chủ yếu là để đối phó với thanh tra (chứ còn với GV thì chỉ cần in một lần). Nhưng còn soạn bài giảng điện tử là để giao tiếp với HS, để trình chiếu, giới thiệu cho HS nội dung bài giảng. Tôi thấy nội dung chiếu lên màn hình lôi cuốn, hấp dẫn và thu hút HS hơn rất nhiều so với ghi bảng bằng phấn. Soạn bài như thế thì GV nào cũng phải đầu tư suy nghĩ để lên kế hoạch bài dạy. Ngay cả là GA copy về, họ cũng phải xem và suy nghĩ thật kỹ (hoặc thay đổi theo ý kiến riêng của họ) trước khi dạy. Rõ ràng GV cần phải biết trình tự và nội dung các slide xuất hiện như thế nào để có lời giảng cho phù hợp. Tôi nghĩ không một GV nào dám lên lớp dạy học bằng bài giảng điện tử mà không đọc kỹ nội dung bài dạy trước cả.
Tóm lại tôi có mấy đề nghị với các cấp quản lý giáo dục:
- Với GA in vi tính: được sử dụng nhiều lần
- Đầu tư projector hoặc TV màn hình lớn cho các trường để dạy học bằng bài giảng điện tử
- Khuyến khích GV tăng cường soạn và sử dụng Bài giảng điện tử trong dạy học
- Bộ GD&ĐT nên mua bản quyền một số phần mềm để soạn Bài giảng điện tử (như Violet chẳng hạn) để cung cấp miễn phí trên mạng chứ không lẽ trường nào hay GV nào cũng phải mua.
- Tổ chức tập huấn cho GV cách soạn bài giảng điện tử
Kính mong quí cấp quản lý giáo dục quan tâm giải đáp

Nguồn Internet

Phân biệt Giáo án và BGĐT

Giáo án, tiếng Anh là Lesson Plan. Hiểu nôm na là Kế hoạch giảng một bài học.

Đó là bản kế hoạch (nên sẽ được soạn bằng phần mềm soạn thảo văn bản như Word, Writer…), trong đó mô tả rõ các hoạt động dạy và học cần chuẩn bị và thực hiện trong một bài giảng (thường chiếm 1-2 tiết học).

 

Bài giảng điện tử là bài giảng được thể hiện qua các phương tiện CNTT (phần mềm, phần cứng). Trong tiếng Anh chỉ có thuật ngữ Lesson và Presentation, không có khái niệm e Lesson. Có thể quân nhà ta thấy có thương mại điện tử, Chính phủ điện tử …. thì tiện thể thêm luôn thành Bài giảng điện tử. Đó là một sáng tạo đáng ghi nhận kiểu Việt Nam.

Phương tiện CNTT thường gồm:
- Phần mềm trình chiếu như powerpoint (đơn giản và thuận tiện nhất). Đây là dạng phổ biến nhất hiện song mọi người hay nhầm lẫn gọi đây là giáo án điện tử.
Vì vậy việc sử dụng Powerpoint soạn bài, có thể gọi là bản trình chiếu.
Phần tài liệu tiếp theo sẽ nói kinh nghiệm cách trình bày powerpoint ra sao.

- Sử dụng các công cụ thể hiện multimedia gồm văn bản text, âm thanh (sound), tiếng nói (voice), hình ảnh (image), video, hoạt hình (animation) cho chữ và hình, đồ hoạ (graphic)…
- Sử dụng flash là một định dạng nén của hãng Macromedia trước đây chứa video, các hoạt hình, âm thanh, truyền hình…. Đây là định dạng phổ biến và rất tiện để truyền tải thông tin hiện nay.
- Các phần mềm soạn bài giảng hiện có rất nhiều và rất hiện đại, thường được gọi là
authoring tools trong e Learning.
- Giáo viên có thể ban đầu soạn bài giảng bằng Powerpoint, sau đó chuyển sang Authoring tools vì nó có chức năng chuyển đổi.

- Bài giảng điện tử e Learning là thể hiện cao cấp nhất của bài giảng điện tử bởi nó có thể chứa không chỉ bài giảng text, video chèn vào bình thường mà nó còn có cấu trúc chuẩn hoá theo định dạng SCORM, AICC để đưa vào các hệ thống quản lí bài giảng (Learning Managment System: LMS).
Thông thường Bài giảng điện tử e Learning còn có thể có: Có video hình ảnh giáo viên giảng bài, có thể có bài thi kiểm tra với nhiều loại trắc nghiệm khác nhau, có thể chat giữa giáo viên và người học, có thể thăm dò ý kiến, có thể đưa vào một cách dễ dàng các mẩu multimedia.

Như vậy với bài giảng điện tử e Learning, người học có thể học một mình vì hình ảnh và tiếng giáo viên giảng bài có thể đã được gắn vào nên rất sinh động, có thể tự kiểm tra kiến thức qua gần 20 kiểu trắc nghiệm.

Authoring tool là công cụ soạn bài giảng điện tử, nó có thể cho phép soạn off-line, nghĩa là không cần nối mạng, vẫn soạn được bài giảng. Sau đó xuất kết quả ra đĩa CD để học cũng off-line. Điều quan trọng là phải tuân theo chuẩn quốc tế.
Hiện nay có rất nhiều Authoring tools, có cái miễn phí, có cái giá rất rẻ.
Cụ thể thí dụ:
- Microsoft Producer là phần mềm soạn bài giảng e Learning, miễn phí.
- Presenter của Adobe.
- (Sẽ bổ sung… ở mục khác)

Vấn đề nữa là Bài giảng e Learning sẽ có thể được truyền tải lên mạng Internet nhờ các hệ thống LMS của bất kì hãng nào do nó tuân thủ theo chuẩn quốc tế. Hiện nay phổ biến nhất ở Việt nam là dùng phần mềm LMS mã nguồn mở  Moodle do Cục CNTT Việt hoá nhiều năm nay.

Quách Tuấn Ngọc – Cục CNTT


văn bản Hướng dẫn năm học mới về CNTT

Ngày 7/9/2007, Thứ trưởng Trần Văn Nhung đã kí văn bản Hướng dẫn năm học mới về CNTT.
Trong đó có định hướng rõ:

1. Khuyến khích giáo viên soạn giáo án trên máy vi tính và chia sẻ dùng chung.
Có nghĩa là:
- Chuyện soạn giáo án trên máy vi tính (bằng phần mềm soạn thảo văn bản) là đương nhiên.
- Khuyến khích chia sẻ để học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau.
- Xin xem mẫu giáo án.
- Khái niệm giáo án khác khái niệm Bài giảng điện tử.

2. Bài giảng điện tử và e Learning.
- Khuyến khích giáo viên soạn bài giảng điện tử và e Learning để chia sẻ dùng chung.
- Tổ chức cuộc thi giáo án và bài giảng điện tử.

3. Cục CNTT chủ trì, tuyển chọn và phổ biến các công cụ soạn bài giảng điện tử để phổ biến rộng rãi.
Các tác giả, giáo viên, học sinh… khi cần gửi bài, gửi đĩa CD, trao đổi thông tin, xin liên hệ
CucCNTT@moet.gov.vn

Cục Công nghệ thông tin, Bộ Giáo dục và Đào tạo
30/18 Tạ Quang Bửu
Hà Nội

ĐỀ KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG NĂM HỌC 2008 – 2009

Một số kinh nghiệm thiết kế câu hỏi trắc nghiệm khách quan

1. Câu hỏi nhiều lựa chọn

- Câu dẫn: Là một câu hỏi hoặc một câu chưa hoàn chỉnh yêu cầu học sinh phải chọn trong đáp án để thành câu hoàn chỉnh. Câu dẫn phải viết ngắn gọn, rõ ràng và dễ hiểu tránh viết dài dòng gây mất thời gian khi học sinh đọc hoặc gây nhầm lẫn cho học sinh.Image

- Các phương án lựa chọn: Gồm 1phương án đúng và có khoảng 3 đến 4 phương án gây nhiễu .

+ Phương án đúng thể hiện sự hiểu biết của học sinh khi chọn đáp án chính xác. Học sinh nắm vững kiến thức mới phân biệt được.

+ Phương án nhiễu là câu trả lời sẽ dễ gây nhằm lẫn đối với học sinh học bài chưa kĩ hay kiến thức chưa vững.Phương án nhiễu cần phải có mối liên hệ với câu dẫn và tạo nên một nội dung hoàn chỉnh, có nghĩa..Tránh những phương án nhiễu nhìn vào thấy sai ngay. Phương án nhiễu phải có cấu trúc và nội dung tương tự như câu trả lời đúng.

- Khi viết loại câu này cần chú ý những điểm sau:

- Tránh có 2-3 câu trả lời đúng
- Tránh có phương án “Tất cả đều đúng”, “Tất cả đều sai”. Vì có 2 khó vấn đề chính là học sinh dễ chọn đáp án là những câu này và trong quá trình trộn đề sẽ khó khăn vì các đáp án này có thể sẽ không nằn ở đáp án cuối cùng.
- Hạn chế loại phương án lựa chọn câu trả lời đúng nhất, vì câu hỏi này thường khó và cũng dễ gây khó khăn hoặc nhầm lẫn khi giáo viên ra đề .
- Hạn chế cho học sinh lựa chọn phương án trả lời sai vì học sinh dễ nhầm lẫn. Nếu yêu cầu chọn phương án phủ định hoặc sai thì phải in đậm, gạch chân hoặc làm nổi rõ những từ đó ở câu dẫn.
- Không nhắc lại các thông tin của câu dẫn trong mỗi câu lựa chọn.

- Một số sai sót thường gặp khi ra đề TNKQ dạng Câu hỏi nhiều lựa chọn

- Phương án gây nhiễu không học sinh nào bị mắc phải khi làm bài.
- Có các phương án nhiễu phủ định nhau hoặc đồng nghĩa
- Đáp án đúng mà học sinh nhìn vào là chọn được ngay ( Vì quá dễ)
- Có nhiều hơn 1 phương án đúng
- Không có phương án nào đúng
- Lệnh không thống nhất (Khoanh tròn đáp án đúng , đánh dấu X , gạch chân, …)
- Hình vẽ không chính xác, quên chiều mũi tên, không rõ ràng
- Câu phủ định không gạch chân, không in đậm, làm rõ

2. Câu “Đúng – Sai”

- Phần dẫn: Trình bày một nội dung nào đó, một câu trả lời, một đáp án… mà học sinh phải đánh giá là đúng hay sai bằng cách điền (Đ) hoặc (S) vào ô trống.

- Phần trả lời : Chỉ có 2 phương án: Đúng (Đ) và sai (S).

- Khi viết loại câu này cần chú ý những điểm sau:

+ Các câu trong phần dẫn nên viết ngắn gọn, không nên trích dẫn nguyên văn nội dung sách giáo khoa
+ Tránh sử dụng những thuật ngữ không xác định về mức độ như “thông thường”, “hầu hết”, “luôn luôn”,“tất cả”, “không bao giờ”… vì học sinh dễ đoán được câu đó đúng hay sai.
+ Loại câu Đ-S thường chỉ kiểm tra kiến thức ở mức độ “biết”, ít kích thích suy nghĩ, khả năng phân hoá học sinh thấp. Yếu tố ngẫu nhiên, may rủi nhiều hơn so với câu nhiều lựa chọn

- Một sai sót thường gặp khi ra đề TNKQ dạng câu hỏi Câu “Đúng sai”: Câu khẳng định không rõ tính đúng, sai

3. Câu ghép đôi

- Câu lệnh: Tùy yêu cầu trả lời của câu hỏi mà có lệnh khác nhau.

- Hai dãy thông tin: Dãy thông tin bên trái (cột A) là phần dẫn gồm các câu hỏi hoặc các câu chưa hoàn chỉnh. Dãy thông tin bên phải ( cột B) là phần trả lời gồm các câu trả lời hoặc mệnh đề để hoàn chỉnh câu dẫn.

- Kết quả: Ghép các câu dẫn với các câu trả lời thích hợp bằng một gạch nối cột (A) với cột (B), cột trái với cột phải hoặc cũng có thể trả lời đơn giản như điền 1 với……, 2 với……..
Loại câu ghép đôi thích hợp với việc kiểm tra một nhóm kiến thức sự kiện.

- Khi soạn loại câu này cần chú ý những điểm sau:

- Dãy thông tin đưa ra không nên quá dài.
- Nên có những câu trả lời dư ra để tăng sự cân nhắc khi lựa chọn. và câu trả lời dư ra này phải có mục đích là gây nhiễu.
- Thứ tự câu trả lời không nên trùng với thứ tự câu hỏi

- Một số sai sót thường gặp khi ra đề TNKQ dạng câu hỏi Câu ghép đôi

- Số dòng ở hai cột bằng nhau
- Một số dòng ở cột bên trái ( Cột A) ghép được với hơn một dòng ở cột bên phải (Cột B).

4. Câu điền khuyết

- Phần nội dung: Bao gồm những câu có chỗ để trống (…..) để học sinh điền từ thích hợp.

- Phần cung cấp thông tin: Gồm những từ hoặc cụm từ cho trước, số từ (cụm từ) phải nhiều hơn số chỗ trống cần điền để tăng sự cân nhắc của học sinh khi lựa chọn.
- Cũng có thể không có phần cung cấp thông tin. Học sinh phải tự tìm từ hoặc cụm từ thích hợp để điền vào chỗ trống v à mỗi chỗ trống chỉ có một từ ( cụm từ) được chọn là điền đúng. Dạng này khó hơn nên có thể dành cho học sinh khá, giỏi.

- Chú ý khi soạn loại câu hỏi điền khuyết

- Bảo đảm mỗi chỗ trống chỉ điền được 1 từ hoặc cụm từ. Không được chừa 2 chỗ trống gần nhau.
- Mỗi câu nên chỉ có 1 hoặc 2 chỗ trống, được bố trí ở giữa hay cuối câu. Độ dài của các khoảng trống nên bằng nhau để học sinh không đoán được từ ( cụm từ) phải điền là dài hay ngắn.
- Tránh dùng những câu trích nguyên văn trong sách giáo khoa vì sẽ khuyến khích học sinh học thuộc lòng, “học vẹt”. Thiếu tư duy khi làm bài.
- Một số sai sót thường gặp khi ra đề TNKQ Dạng điền khuyết
- Từ hoặc cụm từ cần điền không có ý nghĩa hoặc không liên hệ với câu hỏi
- Cụm từ cần điền quá dài.

www.giaovien.net

Trần Anh Huy
GV Trường THCS Lê Quý Đôn – Vĩnh Cửu – Đồng Nai
Email: trananhhuylqd@yahoo.com.vn

Bài giảng điện tử

Bài giảng điện tử đơn giản có thể là một đoạn văn bản, một tệp âm thanh, hình ảnh, một bài trình chiếu hay cũng có thể là một bài giảng multimedia (có thể kết hợp nhiều đoạn văn bản, âm thanh, hình ảnh) được tạo ra giúp giáo viên sử dụng nhằm nâng cao hiệu quả bài dạy.
Chúng ta nên phân biệt rõ một số thuật ngữ:
- Giáo án: là kế hoạch lên lớp của giáo viên. (lesson plan)
- Bài trình chiếu (presentation).
- Cua học (tiếng Anh: course, tiếng Pháp: cour) là dãy hoạt động giảng dạy liên quan đến một môn học của một giáo viên xác định, trong một khung thời gian và địa điểm nhất định, nhằm cung cấp cho người học một văn bằng chứng chỉ.
- Một khoá học có thể có nhiều cua học.

Công cụ tạo bài giảng điện tử
Công cụ tạo bài giảng điện tử (Authoring Tools) là các phần mềm công cụ trợ giúp việc tạo nội dung học tập một cách dễ dàng như là: Powerpoint, Word, eXe, LectureMAKER, Hot Potatoes…Các công cụ tạo bài giảng có thể được chia thành các nhóm:
- Công cụ soạn thảo bài giảng thông thường (dạng văn bản),
- Công cụ mô phỏng/giả lập,
- Công cụ kiểm tra và đánh giá,
- Công cụ tạo bài trình bày multimedia.
- …

Quách Tuấn Ngọc – Cục CNTT

Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong GD-ĐT

 

(SGGP). – Đây là chủ đề chính trong Hội thảo quốc gia qua cầu truyền hình do Bộ GD-ĐT tổ chức sáng ngày 29-8, tại 5 điểm cầu: Hà Nội, Vinh, Đà Nẵng, TPHCM và Cần Thơ. Đây cũng là chủ đề của năm học 2008 – 2009. Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân đã tham dự và phát biểu tại hội thảo.

Trong những năm gần đây, việc ứng dụng CNTT trong GD-ĐT đã được các cơ sở giáo dục bậc ĐH, CĐ, trung cấp và nhiều nhà trường phổ thông triển khai. Hiện nay, Bộ GD-ĐT và một số Sở GD-ĐT cũng đã thực hiện quản lý bằng CNTT. Tuy nhiên việc ứng dụng này chưa tạo được bước chuyển biến chung về chất lượng trong việc dạy và học cũng như quản lý. Chính vì vậy, Bộ GD-ĐT quyết định lấy chủ đề năm học 2008 – 2009 là “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong GD-ĐT”.

Ngay trong năm học này Bộ GD-ĐT sẽ tiến hành: Kết nối thông tin của tất cả các cơ sở GD-ĐT vào Internet trên hệ thống mạng quốc gia, phát triển các dịch vụ thông tin và ứng dụng trên Internet, phát triển thông tin về giáo dục; đưa công nghệ dạy học trực tuyến lên mạng EduNet để chia sẻ dùng chung, để mọi người có thể học mọi nơi, mọi lúc và học tập một cách mềm dẻo theo nhu cầu của bản thân; mỗi trường ĐH, CĐ phải xây dựng website riêng, mỗi giáo viên và học sinh có email theo tên miền của trường mình. Đối với các trường vùng sâu, vùng xa, không thể nối cáp Internet, Tổng Công ty Viễn thông quân đội Viettel cam kết sẽ cung cấp kết nối Internet miễn phí qua sóng điện thoại di động.

Phát biểu tại hội thảo, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân cho rằng: Thông qua năm học này làm sao để tất cả cán bộ quản lý ở các cơ sở, các thầy, cô hiệu trưởng, các giáo viên thống nhất nhận thức được lợi ích, sự cần thiết đối với việc ứng dụng CNTT trong GD-ĐT. Qua đó, xác định phần kỹ năng tối thiểu các thầy cô giáo phải có để có thể ứng dụng CNTT trong công việc giảng dạy của mình. Làm thế nào để trong 3 năm tới có những chuyển biến đáng kể trong việc ứng dụng CNTT. Từng bước tiến hành xây dựng cơ sở dữ liệu theo từng ngành học, môn học, qua đó hình thành những thư viện điện tử, dữ liệu tham khảo cho từng môn như: Văn, Sử, Địa… ở bậc phổ thông hoặc ở bậc ĐH, CĐ, trung cấp. Hình thành các công cụ CNTT phục vụ cho quản lý nhà trường từ quản lý chương trình, quản lý tài chính, quản lý giáo viên… 

TRẦN BÌNH

MẤY GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG TRONG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY – HỌC LỊCH SỬ

                                                                                                  ThS. Nguyễn Mạnh Hưởng(*)

 

1. Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học là xu thế phát triển tất yếu của nền giáo dục hiện đại

Chúng ta đang sống trong thời đại của hai cuộc cách mạng: cách mạng khoa học – kỹ thuật (CMKH-KT) và cách mạng xã hội. Những cuộc cách mạng này đang phát triển như vũ bão với nhịp độ nhanh chưa từng có trong lịch sử loài người, thúc đẩy nhiều lĩnh vực, có bước tiến mạnh mẽ và đang mở ra nhiều triển vọng lớn lao khi loài người bước vào thế kỷ XXI.

Công nghệ thông tin và truyền thông (Information and Communication Technology – ICT) là một thành tựu lớn của cuộc CMKH-KT hiện nay. Nó thâm nhập và chi phối hầu hết các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ trong sản xuất, giáo dục, đào tạo và các hoạt động chính trị, xã hội khác. Trong giáo dục – đào tạo, ICT được sử dụng vào tất cả các môn học tự nhiên, kỹ thuật, xã hội và nhân văn. Hiệu quả rõ rệt là chất lựơng giáo dục tăng lên cả về mặt lý thuyết và thực hành. Vì thế, nó là chủ đề lớn được tổ chức văn hóa giáo dục thế giới UNESCO chính thức đưa ra thành chương trình hành động trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI và dự đoán “sẽ có sự thay đổi nền giáo dục một cách căn bản vào đầu thế kỷ XXI do ảnh hưởng của CNTT ”. Như vậy, ICT đã ảnh hưởng sâu sắc tới giáo dục và đào tạo, đặc biệt là trong đổi mới phương pháp DH (PPDH), đang tạo ra những thay đổi của một cuộc cách mạng giáo dục, vì nhờ có cuộc cách mạng này mà giáo dục đã có thể thực hiện được các tiêu chí mới:

Học mọi nơi (any where)

Học mọi lúc (any time)

Học suốt đời (life long)

Dạy cho mọi người (any one) và mọi trình độ tiếp thu khác nhau

Thay đổi vai trò của người dạy, người học, đổi mới cách dạy và cách học.

Ở nước ta, vấn đề ứng dụng ICT trong giáo dục, đào tạo được Đảng và Nhà nước rất coi trọng, coi yêu cầu đổi mới PPDH có sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật hiện đại là điều hết sức cần thiết. Các Văn kiện, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, Chính phủ, Bộ Giáo dục – Đào tạo đã thể hiện rõ điều này, như: Nghị quyết CP của Chính phủ về chương trình quốc gia đưa công nghệ thông tin (CNTT) vào giáo dục đào tạo (1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII, Luật giáo dục (1998) và Luật giáo dục sửa đổi (2005), Nghị quyết 81 của Thủ tướng Chính phủ, Chỉ thị 29 của Bộ Giáo dục – Đào tạo, Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010,…

Trong Nghị quyết Trung ương II, khoá VIII Đảng và Nhà nước ta khẳng định, phải “đổi mới phương pháp giáo dục – đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương pháp hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho HS,…”[1].

Chỉ thị số 29 của Bộ Giáo dục – Đào tạo (ngày 30/7/2001/CT) về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục giai đoạn 2001 – 1005 nêu rõ “CNTT là phương tiện để tiến tới một xã hội hóa học tập”, nhưng “giáo dục và đào tạo phải đóng vai trò quan trọng bậc nhất thúc đẩy sự phát triển của CNTT ”.

Trong “Chiến lược phát triển giáo dục – đào tạo đến năm 2010” của Bộ Giáo dục – Đào tạo đã yêu cầu ngành giáo dục phải từng bước phát triển giáo dục dựa trên CNTT, vì “CNTT và đa phương tiện sẽ tạo ra những thay đổi lớn trong quản lý hệ thống giáo dục, trong chuyển tải nội dung chương trình đến người học, thúc đẩy cuộc cách mạng về phương pháp dạy và học”.

Đặc biệt, công văn số 9584/BGDĐT-CNTT ngày 7/9/2007 của Bộ Giáo dục và Đào tạo gửi cho các sở giáo dục và đào tạo, các trường đại học, cao đẳng sư phạm và các khoa sư phạm, yêu cầu phải nhanh chóng “đẩy mạnh việc dạy môn Tin học và ứng dụng CNTT trong giáo dục, góp phần đổi mới phương pháp dạy-học và quản lí giáo dục”. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phát động “lấy năm học 2008 – 2009 sẽ là năm Công nghệ thông tin” [2].

2. Những điều kiện cần thiết để đưa ICT vào đổi mới phương pháp dạy-học lịch sử ở trường phổ thông.

Dạy học lịch sử (DHLS) là một hoạt động mang tính đặc thù, một quá trình sư phạm phức tạp, học sinh (HS) không thể từ “trực quan sinh động” (nhìn quá khứ), mà phải đi từ cung cấp sự kiện để tạo biểu tượng lịch sử, hình thành khái niệm, rồi mới nêu được quy luật, rút ra bài học kinh nghiệm và vận dụng vào thực tiễn. Việc cung cấp sự kiện lịch sử cho HS càng cụ thể, giàu hình ảnh bao nhiêu thì các em càng hứng thú học tập và hiểu biết lịch sử bấy nhiêu. Công việc này đối với GV (GV) thật không đơn giản, nhưng ngày nay nhờ vào ICT, GV có thể dễ dàng giúp HS đi “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng”, hiểu đúng bản chất của sự kiện, hiện tượng lịch sử, từ đó có tư tưởng tình cảm đúng đắn và phát triển toàn diện ở các em. ICT có tác dụng tích cực góp phần vào đổi mới PPDH bộ môn hiện nay. Bởi vì, theo các chuyên gia giáo dục, nếu cứ áp dụng PPDH truyền thống thì 90% tri thức của HS được tiếp nhận qua tai, 10% qua mắt sau một thời gian ngắn sẽ rơi vào tâm trạng mệt mỏi, giảm sự chú ý[1], nhưng nếu các em vừa được nghe, vừa được nhìn thông qua hình ảnh, kết hợp với các hoạt động (tức là huy động cùng một lúc nhiều giác quan) thì kết quả ghi nhớ kiến thức của HS  đạt hơn 90%[2]. Tuy nhiên, để nhanh chóng đưa ICT vào đổi mới PP dạy-học LS ở trường phổ thông, chúng ta phải có sự chuẩn bị:

a. Xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại.

Để góp phần đưa ICT vào đổi mới PPDH nói chung, DHLS nói riêng, trước tiên các trường phổ thông cần phải xây dựng phòng học đa năng kiên cố với những trang thiết bị nghe-nhìn hiện đại tối thiểu, như: máy vi tính nối mạng Internet và kết nối với máy chiếu (Projector), đầu VCD, loa phóng thanh, màn hình. Ngoài phòng học đa năng, mỗi trường phổ thông cũng cần được trang bị thêm một máy Projector, màn hình, loa phóng thanh “di động”, tạo điều kiện cho GV của trường thực hiện những “giờ dạy lưu động” ở các phòng học khác khi muốn ứng dụng ICT vào đổi mới PPDH. Ở những nơi có điều kiện, nhà trường có thể khuyến khích hoặc hỗ trợ GV một phần kinh phí mua máy tính cá nhân để thuận tiện khi soạn bài giảng điện tử (E-Learning) ở nhà.

b. Đào tạo con người

Chúng ta biết rằng, con người là yếu tố quyết định của mọi sự thành công. Trong DH, CNTT chỉ như một dụng cụ trực quan, một phương tiện DH hiện đại giúp GV truyền tải kiến thức đến người học và HS là người lĩnh hội tri thức ấy một cách chủ động, tích cực. Như vậy, chính GV với PPDH và nghiệp vụ sư phạm của mình mới quyết định hiệu quả sử dụng CNTT, GV là người làm chủ công nghệ chứ không phải công nghệ điều khiển GV. Tuy nhiên, nếu GV không có kiến thức về công nghệ này, không nắm vững những vấn đề về PP và PP luận thì không thể thực hiện được. Do đó, Sở Giáo dục – Đào tạo các tỉnh và các trường phổ thông bằng nhiều hình thức khác nhau cần phải nhanh chóng đào tạo được một đội ngũ GV cho từng môn học (Lịch sử, Vật lí, Hóa học,… biết sử dụng thành thạo máy tính, biết cách ứng dụng ICT vào đổi mới PPDH và làm chủ công nghệ hiện đại. Sở Giáo dục – Đào tạo các tỉnh nên có phương án hỗ trợ một phần kinh phí cho các trường phổ thông, hoặc phối kết hợp với các khoa của trường Đại học Sư phạm Hà Nội mở lớp bồi dưỡng, tập huấn, nâng cao trình độ nghiệp vụ cho GV bộ môn về sử dụng ICT vào DH. Thực tiễn cho thấy, ở một số tỉnh đã và đang làm tốt hoạt động này như, Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Bắc Giang,… Song, khi cử GV tham dự lớp học, tập huấn và bồi dưỡng ICT vào DH, các trường phổ thông cần lưu ý đến đối tượng là GV trẻ – những thầy cô sẽ đi tiên phong trong việc ứng dụng công nghệ hiện đại này. Mặt khác, ngoài việc đào tạo một đội ngũ GV biết sử dụng thành thạo máy tính, ứng dụng tốt ICT vào DH bộ môn, mỗi trường phổ thông nên có một GV phụ trách phòng máy và thiết bị để hỗ trợ, giúp đỡ các GV trong quá trình chuẩn bị và tổ chức DH khi cần thiết.

c. Triển khai thực hiện

Sau khi đã đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại và đào tạo đội ngũ GV làm chủ công nghệ hiện đại, việc còn lại của GV các trường phổ thông là ứng dụng công nghệ đó – những thành tựu của khoa học-kĩ thuật vào DH, từng bước góp phần đổi mới PPDH, nâng cao chất lượng DH bộ môn. Để đẩy mạnh việc ứng dụng ICT vào DH, các trường phổ thông nên khuyến khích và đưa ra những yêu cầu bắt buộc đối với GV. Ví như, nhà trường yêu cầu mỗi tháng GV phải có ít nhất một tiết dạy bằng bài giảng điện tử tại phòng học đa năng, có sự tham gia dự giờ của tổ chuyên môn để làm cơ sở cho phong trào thi đua của GV toàn trường.

Tại nhiều trường phổ thông, nhất là những  trường ở các thành phố, trung tâm văn hóa lớn (Hà Nội, Hải Phòng, Huế,..), GV khá say sưa và thường xuyên sử dụng ICT trong DH. Song, ở nhiều trường phổ thông tại các tỉnh thành khác, việc ứng dụng công nghệ mới này vào DH bộ môn đôi khi mang tính hình thức, mua vui, hoặc chỉ sử dụng vào các dịp thi GV dạy giỏi, khi có đoàn thanh tra trên Sở về dự giờ,… Vì vậy, công suất và hiệu quả sử dụng ICT chưa được tốt.

Theo chúng tôi, một trong những lí do khiến việc ứng dụng ICT vào DHLS chưa mang lại hiệu quả vì GV còn quá thờ ơ với hoạt động này, chưa thực sự nhận thức rõ vai trò, ý nghĩa của việc ứng dụng ICT vào đổi mới PPDH bộ môn. Sự khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn tư liệu điện tử phục vụ cho soạn bài giảng trên máy cũng là một vấn đề lớn đối với GV. Vì vậy, GV cần phải nhận thức đúng đắn về vai trò của ICT trong DH nói chung, DHLS nói riêng; phải có niềm đam mê, yêu thích và tích cực sưu tầm, khai thác các hình ảnh, tư liệu lịch sử trên mạng Internet (tranh ảnh, bản đồ, phim tư liệu,…), xây dựng một “thư viện điện tử” để thuận tiện cho thiết kế bài giảng khi cần.

3. Một số yêu cầu về phương pháp luận và lí luận DH khi ứng dụng ICT vào đổi mới phương pháp dạy-học lịch sử ở trường phổ thông.

Xuất phát từ những yêu cầu, đòi hỏi của nền giáo dục, đào tạo Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay và tình hình thực tiễn ứng dụng ICT trong DHLS ở trường phổ thông, chúng ta không cho phép duy trì lối dạy cũ “thầy đọc, trò chép” một cách thụ động, máy móc. Thay vào đó, việc DH phải thể hiện sự tiếp cận, mối quan hệ giữa khoa học – kỹ thuật với giáo dục và thực tiễn, biết ứng dụng những thành tựu của khoa học-kĩ thuật có hiệu quả trong giảng dạy. GV cần phải tiến hành đồng thời “một cuộc cách mạng” về đổi mới tư duy, nội dung và PPDH, cùng với việc sử dụng CNTT. Để việc ứng dụng công nghệ này thực sự có hiệu quả, GV cần nắm vững một số yêu cầu cơ bản về phương pháp luận và lý luận DH sau:

Thứ nhất, việc sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại, trong đó có ICT là góp phần nâng cao chất lượng DH, thực hiện tốt hơn nữa mục tiêu giáo dục, đào tạo tuyệt nhiên không thể rơi vào quan điểm “trong nghiên cứu và DH, chỉ có kỹ thuật quyết định việc nhận thức khách quan, chứ không hề có quan điểm duy vật hay duy tâm, biện chứng hay siêu hình”. Bởi vì, trên thực tế quan điểm cho rằng “kỹ thuật là tất cả” đã thể hiện quan điểm tư sản về khoa học và giáo dục, “ngấm ngầm” chống lại quan điểm mácxít – Lênin nít. Không ai phủ nhận việc ứng dụng những thành tựu của khoa học kĩ thuật, trong đó có ICT sẽ góp phần thực hiện “hoạt động hóa” quá trình dạy-học, nhưng “kĩ thuật không thể quyết định”. Chính GV với PPDH và nghiệp vụ sư phạm của mình mới quyết định hiệu quả sử dụng CNTT, GV là người làm chủ công nghệ chứ không phải công nghệ điều khiển GV.

            Thứ hai, việc sử dụng ICT, trong đó có phần mềm PowerPoint vào giáo dục nói chung không thể thay thế cho các PPDH truyền thống đã được xác định trước đó, mà nó chỉ góp phần tích cực để đổi mới PPDH. Việc kết hợp sử dụng các PP, biện pháp sư phạm, các phương tiện, hình thức DH cũng như sử dụng ICT để giáo dục, DH  là yêu cầu quan trọng, nhưng phải tùy thuộc vào mục tiêu đào tạo, nội dung, PPDH  cũng như đặc trưng của bộ môn. Trong DH, việc sử dụng ICT thực ra nó chỉ là một loại phương tiện trực quan, không thể thay thế cho các “phương pháp truyền thống” về trình bày miệng, sử dụng các loại tài liệu, trao đổi – đàm thoại, đồ dùng trực quan, hoạt động ngoại khóa, tham quan,… Điều này cũng giống như việc sử dụng trắc nghiệm khách quan trong khâu kiểm tra, đánh giá kết quả DH là cần thiết, nhưng vẫn không thể loại bỏ hình thức câu hỏi tự luận. Bởi vì, trắc nghiệm khách quan cũng chỉ là một bộ phận của kiểm tra, đánh giá kết quả DH, được tiến hành phối hợp cân đối với các loại hình kiểm tra, đánh giá khác. Cũng như vậy, liều lượng, mức độ, nội dung, PP sử dụng ICT phải xuất phát từ mục tiêu đào tạo, nội dung, đặc trưng và PPDH cụ thể của từng bộ môn.

            Cuối cùng, việc sử dụng ICT nói chung, khai thác và sử dụng phần mềm PowerPoint vào DH ở trường phổ thông nói riêng là thể hiện sự áp dụng những thành tựu to lớn của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật, kết quả của trí tuệ, sự sáng tạo của con người. Vì vậy, việc sử dụng này không chỉ để minh họa, “mua vui”, giải trí cho HS, mà phải góp phần vào “phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS” trong học tập bộ môn. Ở đây, GV không nên chỉ biết sử dụng thành thạo ICT vào DHLS, mà còn hướng dẫn cho HS biết sử dụng chúng, nhằm “hoạt động hóa” quá trình học tập, “xã hội hóa” quá trình ứng dụng ICT . Ví như, trước mỗi tiết dạy, GV ra bài tập yêu cầu HS lên mạng Internet để tìm kiếm, khai thác thông tin, tư liệu liên quan đến chủ đề sẽ học trên lớp, khi đến tiết học thì báo cáo cho thầy cô, các bạn nghe để cùng trao đổi, thảo luận. Việc làm này vừa mang ý nghĩa khoa học, vừa mang ý nghĩa thực tiễn cao. Để hoạt động này mang lại hiệu quả và đỡ mất thời gian ngồi trên mạng của sinh viên, GV cần cung cấp cho các em một số địa chỉ tìm kiếm thông dụng.

 

                                                       *         *                   

*                                        

Sự phát triển nhanh chóng của ICT trong những năm gần đây đã ảnh hưởng sâu sắc tới nền giáo dục, đặc biệt là trong đổi mới PPDH. Nhận thức được tầm quan trọng này, trong những gần đây, nhiều Sở Giáo dục – Đào tạo, các trường phổ thông đã xây dựng, phát triển các giải pháp chiến lược về xây dựng cơ sở vật chất, đào tạo nhân lực phục vụ cho việc ứng dụng những thành tựu của ICT vào DH. Hiện nay, việc đưa ICT vào giảng dạy của GV ở các trường phổ thông không còn là mới mẻ như 10 năm về trước. Tuy nhiên, việc ứng dụng những thành tựu của công nghệ này trong công tác quản lí, giảng dạy vẫn đang ở bước đi đầu, cần phải đẩy mạnh hơn. Các Sở Giáo dục và Đào tạo, trường phổ thông cần quan tâm nhiều hơn nữa đến việc xây dựng một hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật, trang thiết bị hiện đại, đáp ứng đủ mọi điều kiện cho đội ngũ GV và học sinh ứng dụng ICT vào dạy – học. Đồng thời, việc ứng dụng ICT vào DH nói chung muốn đạt kết quả tốt cần thiết phải kết hợp hài hoà với các phương pháp truyền thống, phù hợp với nội dung, điều kiện cụ thể. Bản thân từng giáo viên cũng phải tự trang bị, bồi dưỡng và nâng cao trình độ ICT để dạy tốt bộ môn./.

 

                                                                                                                        N.M.H

Một số tài liệu tham khảo

 

1.      Nguyễn Mạnh Hưởng – Sử dụng CNTT và truyền thông vào DH lịch sử ở trường phổ thông. Tạp chí Giáo dục, số 133 (3/2006).

2.      Nguyễn Mạnh Hưởng – Thiết kế bài giảng Cách mạng tháng Tám 1945 với sự hỗ trợ của phần mềm Microsoft PowerPoint. Tạp chí Giáo dục, số 154 (1/2007).

3.      Phan Ngọc Liên (Chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi – Phương pháp DH lịch sử ở trường phổ thông. NXB ĐHSP Hà Nội, tập 1- 2, 2002.

4.      Phan Ngọc Liên. Lịch sử và giáo dục lịch sử. NXB Chính trị Quốc gia. Hà Nội, 2003.

5.      Quách Tuấn Ngọc – Đổi mới phương pháp DH bằng CNTT - xu thế của thời đại. Tạp chí Đại học và giáo dục chuyên ngành, số 8, 1999.

6.      The training of trainers program 2002. Block one course materials. The Viet NamAustralia training project the VAT project.


(*) Khoa Lịch sử – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam – Văn kiện Hội nghị lần thứ II BCH TƯ khóa VIII. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997, tr 41.

[2] Xem các Văn kiện, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, Chính phủ, Bộ Giáo dục – Đào tạo về chương trình quốc gia đưa công nghệ thông tin (CNTT) vào giáo dục đào tạo.

[1] Phan Ngọc Liên. LS và giáo dục LS. Nxb Chính trị Quốc gia. HN, 2003, tr 455.

[2] The training of trainers program 2002. Block one course materials. The Viet NamAustralia training project the VAT project, page 11.

TÍNH SƯ PHẠM CHO MỘT BÀI GIẢNG BẰNG POWERPOINT

                                                                              PGS.TS. Lê Phước Lộc

                                                         Th.S. Nguyễn Hồng Nhung                                                                   

                                                          Trường Đại học Cần Thơ

        Hiện nay, việc dùng phần mềm PowerPoint (PPt) là khá phổ biến ở các cuộc hội họp, các cuộc Hội thảo chuyên môn, các lớp huấn luyện nghề của các đơn vị kinh tế…Đã có những cán bộ giảng Nghị quyết của Đảng cũng dùng PP. Điều này cho thấy tính ưu việt gần như tuyệt đối hiện nay của máy tính với phần mềm PP về mọi phương diện cho một bài báo cáo hoặc bài giảng. Tuy nhiên, tính ưu việt đó còn phụ thuộc rất nhiều vào người báo cáo và đặc biệt là vào sự chuẩn bị các trang trình chiếu. Đối với nghề dạy học, tiêu chí của bài học không giống như những bài thuyết trình, những bản báo cáo. Đối tượng dạy học lại hoàn toàn không như các đối tượng Hội nghị, Hội thảo. Cho nên, việc chuẩn bị một bài giảng bằng PPt cần đảm bảo không những tính nội dung (khoa học) mà còn phải đặt mạnh tiêu chí về tính sư phạm. Tính sư phạm ở đây bao gồm: sự phù hợp về mặt tâm sinh lí học sinh (HS), sinh viên (SV), tnhs thẩm mĩ của trang trình chiếu, sự thể hiện nhuần nhuyễn các nguyên tắc dạy học và các phương pháp dạy học (PPDH). Vì vậy, người giáo viên (GV) muốn sử dụng PPt để dạy học có hiệu quả thì không những phải có kiến thức tối thiểu về phần mềm này (không phải chỉ đơn thuần là “viết” chữ lên các trang trình chiếu) mà còn cần phải có ý thức sư phạm, kiến thức về lí luận dạy học và về các PPDH tích cực, sau đó mới là sự linh hoạt và sáng tạo trong thiết kế các trang trình chiếu sao cho hấp dẫn một cách có ý nghĩa.

 

1.Những vấn đề chung:

           Sử dụng máy tính để dạy học là một trong những hướng thay đổi PPDH trong nhà trường chúng ta hiện nay, trong đó, việc giảng bằng các trang trình chiếu PPt đang được các giảng viên đại học, thầm chí nhiều GV trường THPT bắt đầu thực hiện. Đương nhiên, không phải và cũng không cần thiết biến mọi tiết dạy trở thành giờ học bằng máy tính, cho dù ở trường nào đó có đủ khả năng về cơ sở vật chất cũng như các kĩ năng thích hợp cho công việc. Mỗi giáo viên cần chọn tiết học sao cho nếu đưa nó lên trang trình chiếu PP thì sẽ tận dụng được tối đa ưu việt của máy tính về phương diện cung cấp thông tin cho người học, về tính hấp dẫn của của bài giảng, chí ít cũng có hiệu quả hơn bài giảng với bảng viết thông thường. Cần tránh việc chạy theo phong trào để rồi bài giảng thiếu chất lượng, lạm dụng các hiệu ứng trong phần mềm PPt làm người học bị phân tán sự chú ý. Cũng không nên tầm thường hoá việc dạy bằng PPt. Nhiều người quan niệm trang trình chiếu chẳng qua là thay bảng đen, thậm chí không bằng bảng đen (vì họ không được viết xóa thoải mái như dùng bảng đen). Cái “lí” của họ cũng có thể đúng, bởi vì thực tế, một số GV dạy bằng PPt nhưng cuối cùng HS chẳng ghi được gì vào tập, không thu nhận được kiến thức gì quan trọng ngoài sự “thú vị” một cách chung chung!

        Như vậy có nghĩa là, sử dụng máy tính để dạy học phải đạt được yêu cầu cao nhất là: hiệu quả giờ học. Trước hết ta hãy nói đế thực trạng của vấn đề này hiện nay.

Sự chú ý nghe     a/ Khái quát các ưu, nhược điểm của việc sử dụng bài giảng bằng PPt

       * Phần mềm PPt có những ưu điểm cơ bản sau:

          - Các hiệu ứng, màu sắc, kiểu chữ..rất tiện lợi cho một xử lí một bài giảng linh hoạt, hấp dẫn và sư phạm.

          - Khả năng sử dụng hiệu quả các hình ảnh,.phim, các tư liệu dạy học nhanh chóng và chất lượng

          - Tiết kiệm nhiều thời gian viết, vẽ trên lớp

          - Thuận lợi cho việc sử dụng các PPDH tích cực.

       * Những nhược điểm khi sử dụng phần mềm :

          - Tốn khá nhiều kinh phí để đào tạo GV sử dụng máy tính, cán bộ kĩ thuật đảm bảo cho việc thực hiện của GV thông suốt, máy móc không bị hư hỏng một cách vô lí và mua sắm máy móc trang bị cho các đơn vị giáo dục.

          - Vấn đề kĩ thuật sử dụng máy tính, máy chiếu còn là một khó khăn chưa thể vượt qua ở nhiều GV.

          - Nếu không có ý thức sử dụng PPt tốt thì các ưu thế của phần mềm này có thể sẽ trở thành nhược điểm lớn và cơ bản: HS thích học vì mới lạ nhưng tâm lí bị phân tán, không theo dõi được bài học, không ghi được nội dung cơ bản của bài….

  b/ Những điểm mạnh và yếu của giáo viên khi thiết kế bài giảng bằng PPt:

    Nhiều năm trở lại đây, chúng tôi đã theo sát các hoạt động sử dụng máy tính của GV ở các tỉnh thành thuộc Đồng bằng sông Cửu Long và khái quát có những nhận xét sau (chỉ ở những GV đã sử dụng thành thạo máy tính trong dạy học):

   * Mặt mạnh của giáo viên sử dụng PPt:

       - Thiết kế màn hình đẹp, da dạng

       - Đã sử dụng nhiều các phần mềm chuyên dụng làm các thí nghiệm ảo, lồng ghép phim ảnh minh họa

       - Rất chịu khó thu thập tư liệu cho môn học.

           Những thế mạnh này là rất cơ bản nhưng chưa đủ cho việc dạy học bằng máy tính theo nghĩa đích thực của nó.

    *Những điểm yếu của giáo viên sử dung PPt:

       - Sử dụng màn hình không hợp lí trong việc bố trí chữ (viết quá nhiều – dư, viết quá ít – phải lật trang liên tục), kích cỡ chữ, nội dung viết cũng như tính nhất quán trong trình bày (đau là nội dung cho HS ghi chép, đau là điều khiển của GV..)

       - Lạm dụng các hiều ứng làm HS mất tập trung vào bài giảng.

       - Lạm dụng màu sắc, âm thanh hoặc sử dụng chúng không hợp lí, không nhất quán..

       -Cỡ chữ, kiểu chữ không được qui định thống nhất làm cho bài giảng lôn xôn, khó theo dõi

         Để sử dụng có hiệu quả phần mềm PPt, có lẽ cần qui định một số vấn đề sau:       

   c/ Các yêu cầu cơ bản để đảm bảo một bài giảng bằng PPt đạt chất lượng:

      * Về nội dung trang trình chiếu

         Cần:

          - Đủ nội dung cơ bản của bài học

          - Phải được mở rộng, cập nhật

          - Nhiều thông tin có ý nghĩa và được chọn lọc.

          - Trên các trang trình chiếu phải thể hiện được cả tính phương pháp.   

         Tránh:

          - Nội dung nghèo nàn, chỉ nhằm thay thế chiếc bảng đen

          - Quá nhiều thông tin làm HS bị “nhiễu” 

          - Sai sót các loại lỗi chính tả, lỗi văn bản

       * Về hình thức trang trình chiếu:

          Cần:

          - Bố cục các trang trình chiếu sao cho HS dễ theo dõi, ghi được bài

          - Các trang trình chiếu phải mang tính thẩm mĩ để kích thích sự hứng thú học tập,vừa giáo dục được  HS

          - Cỡ chữ phù hợp với số lượng người học, quá lớn thì loãng thông tin, quá nhỏ thì người cuối lớp không nhìn thấy. Thông thường dùng cỡ chữ 24 hoặc 28 là vừa.

          - Cố gắng tận dụng kĩ thuật trong phần mềm (nhưng không cần thiết cầu kì) để thể hiện tính sư phạm của bài giảng

          Tránh:

          - Lạm dụng các hiệu ứng (effect) tới mức không cần thiết

          - Lạm dụng màu và dùng các màu chõi nhau trên cùng một trang (xem mục 3.1).

 

2. Để tập trung sự chú ý của HS trong giờ dạy bằng PowerPoint:

        Vì phong trào sử dụng PPt để dạy học đang phát triển mạnh ở Trường Phổ thông, cho nên trong bài viết này chúng tôi cũng nói cho một bài giảng ở trường Phổ thông. Khác với bài giảng ở Trường Đại học, một bài giảng trước HS phổ thông có những yêu cầu nghiêm ngặt riêng của nó về nội dung bài học, về ghi chép trên bảng, về PPDH. Mỗi bài giảng, thậm chí mỗi trang trình chiếu đều có sự hướng đích khác nhau, thể hiện ở sự bố trí thông tin, bố cục, màu sắc… Tuy nhiên, mọi hướng đích đều có một mục đích chung, đó là chuyển tải được thông tin một cách có hiệu quả và thuyết phục người nghe. Vì vậy, thu hút sự chú ý có nghĩa (chúng tôi nhấn mạnh từ này- xem đoạn e) là làm cho HS phải theo dõi bài giảng một cách tự nguyện. Đó cũng là là nghệ thuật sư phạm của người giảng và người thiết kế các trang trình chiếu mà trong bài này chúng tôi muốn đề cập tới.

   Thông thường, trong một giờ giảng, người nghe sẽ khá tập trung chú ý ở thời điểm bắt đầu. Tuy nhiên, sự tập trung ấy sẽ giảm dần rất nhanh. Vào cuối bài bài giảng, nếu chúng ta cho HS biết rằng bài học sắp kết thúc, họ sẽ chú ý trở lại (biểu đồ hình 1), trong khi nội dung chính của bài giảng lại nằm ở khoảng “giữa”. Vậy làm thế nào để thu hút sự chú ý của người nghe trong suốt quá trình bài giảng? Bản thân các trang trình chiếu bằng PPt (nếu soạn hợp lí) đã có một sức hút lớn đối với học sinh. Tuy nhiên, nếu quá lạm dụng tính ưu việt đó thì đôi khi bài giảng sẽ có tác dụng ngược. Đó là tư tưởng chính của chúng tôi trong bài này. Nghệ thuật sư phạm của người thiết kế bài giảng PPt sẽ có một sức hút riêng đối với HS trong giờ học. Có một số thủ thuật cần thiết cho việc thiết kế bài giảng bằng PPt như sau:

        Nội dung

Sự chú ý nghe    a/ Thay vì mở đầu bằng lời (kể chuyện dẫn dắt, ra một bài tập nhỏ..) ta kèm theo đó là một trang hình phù hợp với nội dung nói, thậm chí có thể là một đoạn trích, một câu hỏi thảo luận đầu giờ, một hình ảnh có ý nghĩa, một đoạn phim…

    b/ Hãy dành một trang nêu tên bài học (sau mở đầu) cùng các đề mục (dàn bài) và cũng nên giới thiệu sơ qua các phần đó đề cập đến vấn đề gì, HS sẽ dễ dàng có một tổng quan về bài giảng, gây tâm lí chờ đợi những thông tin thú vị phía sau.

    c/ Mỗi nội dung nhỏ (mục) cần có “điểm nhấn” hấp dẫn: một câu chuyện để chuyển tiếp giữa các mục, hình ảnh, một đoạn phim, một nhiệm vụ học tập cho hS làm nhanh, một câu trích dẫn có ý nghĩa, có thể pha một ít tính hài hước …để lôi kéo người nghe trở về bài giảng, đôi khi có ai đó bị mất tập trung (hình 2).

    d/ Hãy giữ liên tục nội dung bài giảng (phần dành cho HS ghi) từ trang này sang trang khác như một chiếc “bảng kéo”. Muốn làm điều này, cần chú ý:

        - Hãy sử dụng cỡ chữ, kiểu chữ, màu chữ thống nhất theo từng loại đề mục của bài học. Cỡ chữ ghi nội dung cụ thể nhỏ hơn các đề mục. Sự thống nhất này phải giữ từ đầu đến cuối bài giảng, cho dù nội dung bài học phải chuyển sang trang tiếp.

        - Cố gắng sắp xếp nội dung một hoặc một số mục nằm gọn trong trang, trừ trường hợp bất khả kháng.

        - Mọi nội dung khác không nhằm cho HS ghi hoặc vẽ theo, chỉ dùng tạm thời để mở rộng hoặc làm “điểm nhấn” cho bài giảng (chuyển tiếp giữa các mục, minh họa hình ảnh, câu hỏi thảo luận, nhiệm vụ khám phá..) đều phải dùng kĩ thuật “chèn”các ô cửa sổ có hình hoặc chữ, sử dụng xong thoát ra, không lưu lại (dùng các hiệu ứng xuất hiện rồi biến mất), hoặc dùng thuật Hyperlink (trong Insert)…, sao cho tồn tại từ trang đầu đến trang cuối vẫn là nội dung chính của bài giảng (xem 3.4).

          Những công việc trên còn phải được kết hợp linh hoạt với nghệ thuật trình bày của GV. Ví dụ: Thay vì chuyển tiếp sang mục khác thì GV có thể tóm lược những ý chính của mục vừa mới giảng. Nhờ vậy mà người nghe sẽ bắt kịp tiến độ bài giảng, nếu vì lí do gì đó mà HS bị mất tập trung.

      e/ Mỗi trang sau cần tạo điều kiện thuận lợi cho việc quay về các trang trước để nội dung bài giảng được liên tục (đôi khi cần nhắc lại cái vừa mới học ở trang trước). Muốn vậy, cần lập File riêng cho từng trang (nhưng bỏ hết các hiệu ứng của trang này) – chúng tôi gọi đó là “trang sạch” (xem 3.4-b) – rồi cho vào tệp của bài giảng (Folder). Đến một chỗ nào đó trong bài giảng cần nhắc lại trang trước thì dùng Hyper Link cho xuất hiện ngay trang đó.

     f/ Một nghịch lí về sự “chú ý” thường xảy ra trong dạy học bằng các trang trình chiếu, nhất là đối với những người mới sử dụng PPt lần đầu là: Sự lạm dụng màu hoặc lạm dụng các effect sẽ có thể tập trung được sự chú ý của HS, song sự chú ý đó lại không hướng vào nội dung bài học mà là vào sự sặc sỡ của màn hình, vào những sự “nhảy múa” đủ kiểu của chữ và hình trong trang trình chiếu. Có nghĩa là, HS vẫn chú ý, vẫn thích thú bài học nhưng khi kết thúc giờ học thì bài học cũng biến mất trong trong đầu các em. Điều này thật dễ hiểu đối với tâm lí của HS.

Hình 4: Chọn màn hình đơn sắc

     (Các kiểu chèn tư liệu minh họa sẽ được trình bày ở mục 3.4.)

3. Cụ thể một số nguyên tắc thiết kế trang trình chiếu:

       Trong phần này, chúng tôi tập trung vào những vấn đề vừa mới đề cập ở trên về hình thức trình bày trang trình chiếu. Những ý kiến dưới đây chúng tôi đưa ra từ thực tế sử dụng và từ tham khảo một số tài liệu, không hề có ý định ghép chúng vào thành nguyên tắc cho tất cả, bởi vì khả năng sáng tạo trong việc sử dụng PPt là rất rộng và đa dạng cho những ai ham thích nó.

3.1. Sử dụng màu sắc trong các trang trình chiếu:

        Phối màu linh hoạt, phong phú và dễ làm là ưu việt dễ thấy ở máy tính nói chung, ở các trang trình chiếu PPt, nói riêng. Song sử dụng màu sắc thế nào cho hợp lí  thì không phải ai cũng làm được.

  a) Màu sắc phản ánh nội dung:

  Để có những trang trình chiếu thu hút và ấn tượng, ngoài nội dung khoa học ra, chúng ta phải biết sử dụng màu sắc hợp lí: chọn màu, phối màu giữa nền và chữ, phối màu giữa các dòng văn bản.

   - Có 3 cách chọn màu nền:

          . Màu và hình nền mặc định đã được soạn sẵn trong phầm mềm PPt (Design) nói chung là đủ để sử dụng. Kiểu màn hình mặc định có ưu điểm là màu chữ cũng măc định, tương phản tốt với màu nền. Tuy nhiên, Font chữ định sẵn cho từng màn hình đôi khi không theo ý muốn. Nếu chọn kiểu màn hình nào thì mặc nhiên các trang khác cũng được chọn Font chữ như vậy. Trường hợp muốn có màn hình màu khác xen kẽ vào dãy các trang mặc nhiên đã chọn thì thiết kế theo hai cách dưới đây.

. Có thể chọn màu nền theo ý muốn (đơn sắc): chọn trang màu trắng, sau đó chọn Format→ Backround. Trường hợp này chỉ có màu đơn sắc cho toàn màn hình. Theo kiểu này, người thiết kế có thể dễ dàng thay đổi màu cho các trang khác nhau. Chú ý, nếu chọn màu xong, quyết định Apply, nghĩa là chỉ có màn hình đó có màu theo ý muốn, nếu click  Apply to All, nghĩa là các màn hình trong File đó cũng cùng màu chọn.

Điều này rất quan trọng, bởi vì khi cần xen kẽ một màn hình khác vào trong dãy màn hình mặc nhiên mà chọn Apply to All thì mọi màn hình trong dãy đều thay đổi màu, đồng nghĩa với việc ta phải đổi lại màu chữ trong các màn hình mặc nhiên cho phù hợp. Đôi khi sự trộn màu mặc nhiên và màu đơn sắc lại không vừa ý người thiết kế. Trường hợp xen kẽ như vậy, ta phải click Apply.

      . Trường hợp nói trên (trộn màu đơn sắc và màu màn hình mặc nhiên) gợi ý cho ta kiểu chọn màn hình phối hợp: màn hình mặc nhiên và màu đơn sắc. Kiểu này có lợi ở chỗ, ta lấy được hình nền mặc nhiên (trong thư mục Design) theo sở thích và màu trộn vừa ý . (Còn có cách tự thiết kế màn hình riêng cho minh nhưng phức tạp hơn.)

    Theo các công trình nghiên cứu, mỗi màu nền có mang ý nghĩa riêng của nội dung và đối tượng nghe. Chẳng hạn, những màu trung tính như màu xám và những màu tối hơn sẽ tạo một không khí nghề nghiệp (tất nhiên không ai chọn nền đen); màu cam và những màu lân cận trong dãy quang phổ như vàng, hồng nhạt, nâu nhạt sẽ tạo không khí thân thiện (màu đỏ không nên chọn vì quá chói mắt); màu tím nhạt và hồng có thể dùng cho lứa tuổi cấp tiểu học; để tạo một bầu không khí vui tươi, chào đón ta có thể dùng màu vàng và màu hổ phách; màu xanh nước biển và xanh lá cây thì nhã nhặn (Nguyen, H – 2000), màu trắng rất nghiêm túc song nếu bản báo cáo có chữ viết không được chuẩn bị kĩ trên nền trắng hoặc dùng nền trắng trong suốt bài giảng sẽ tạo cho HS một cảm giác một bài giảng sơ sài, thiếu chuẩn bị.

    Những ý nghĩa của màu nền như trên có thể dùng để tham khảo. Các hình đã cho sẵn trong các nền ở Design cũng ảnh hưởng nhất định đối với nội dung trang trình chiếu. Hơn nữa, việc chọn nền còn phụ thuộc nhiều vào sở thích của người thiết kế. Cần kết hợp tất cả các yếu tố này để có một bài soạn tốt về hình thức trang trình chiếu.

  b) Màu sắc và sự tiếp nhận của mắt:

  Màu chữ và hình sẽ là công cụ đắc lực phục vụ cho bài giảng nếu ta sử dụng nó hợp lí. Ngược lại, bài giảng sẽ dễ dàng trở thành một buổi biểu diễn màu sắc loè loẹt nhưng nhạt nhẽo, thậm chí còn gây cảm giác khó chịu cho người đọc. Để đảm bảo việc sử dụng màu sắc hiệu quả, có một số nguyên tắc sau:

        - Sử dụng nhiều nhất là 5 màu trong mỗi trang bài giảng

      Nếu chữ viết trong một trang chỉ có một màu duy nhất, người đọc sẽ rất nhàm chán. (Ngoại trừ trường hợp, trên trang đó chỉ chứa một loại nội dung duy nhất, như, nội dung của một mục, một đoạn trích, một câu hỏi thảo luận hay nhiệm vụ khám phá.). Ngược lại, sử dụng quá nhiều màu sắc trong một trang hoặc trong một bài giảng sẽ làm cho HS hoặc cảm giác đẹp sặc sỡ, thích thú với màu mà không tập trung vào nội dung bài học, hoặc có cảm giác khó chịu, dẫn đến phản tác dụng. Theo Marcus (1992), nên  dùng từ 2 đến tối đa 5 màu, phân phối hợp lí thì trang trình chiếu sẽ trở nên hấp dẫn hơn. Ví dụ: Dùng một màu chính xuyên suốt cho nội dung khoa học của bài học, một vài màu nổi hơn cho các đề mục và một màu khác để làm nổi bật các ý quan trọng. Chú ý, các đề mục có vai trò ngang nhau thì phải có màu giống nhau (cỡ chữ, kiểu chữ cũng giống nhau). Thế nhưng nên dùng màu nào để làm nổi bật các ý quan trọng? Thông thường, người ta dùng màu đỏ (nhưng không được để trên nền xanh và tím).

       - Màu đỏ được mắt tiếp nhận tốt nhất trong số các màu cơ bản

      Con người có thể thấy được màu là nhờ và các tế bào thần kinh ở võng mạc của mắt. Khoa học đã chứng minh rằng trong 3 màu cơ bản thì số tế bào thần kinh cảm nhận màu đỏ chiếm khoảng 64% võng mạc, số tế bào thần kinh cảm nhận màu lục là 34% và màu xanh đậm (blue) là 2% (Thissen, F.& Title, 2004). Điều này giải thích vì sao màu đỏ dễ đập vào mắt người đọc hơn là màu xanh. Hơn nữa, ánh sáng đi qua thủy tinh thể cũng bị khúc xạ, do đó những màu gần với màu đỏ trên dãy quang phổ bị khúc xạ ít hơn, ta cảm nhận chúng có vẻ “gần” hơn, những màu gần với màu tím bị khúc xạ nhiều hơn, ta có cảm giác chúng ở “xa” hơn (hình 3). Cho nên, dùng các màu lân cận vạch đỏ trong dãy quang phổ để làm nổi bật các điểm cần nhấn mạnh sẽ gây ấn tượng mạnh hơn đối với mắt người và dùng các màu gần vạch tím hơn trong dãy quang phổ cho các chỗ không quan trọng. Nhưng, nếu lạm dụng nhiều màu đỏ sẽ gây cảm giác chói chang, làm mắt cảm nhận một sự khó chịu.

      - Tránh đặt màu nền và màu chữ có bước sóng quá khác nhau (màu chõi, ví dụ: đỏ – xanh dương; đỏ – tím) hoặc có bước sóng gần nhau (khó phân biệt, ví dụ: đỏ – cam..):

        Thủy tinh thể của mắt không thể điều chỉnh để mắt tập trung vào cùng một lúc hai màu có bước sóng khác xa nhau (đỏ và xanh chẳng hạn). Mắt sẽ có cảm giác không tốt khi nhìn vào trang trình chiếu có hai màu này đặt cạnh nhau (các màu nóng và các màu lạnh sẽ “đối chọi” nhau), nhất là màu nền và màu chữ .                                                                                                                                       

3.2. Chữ viết trong trang trình chiếu:

         a) Kiểu chữ: Các Font chữ thường dùng là Times New Roman  và Arial. Việc dùng font nào là tùy sở thích của người thiết kế. Tuy nhiên, trong văn bản tiếng Việt có những bất cập khi dùng các font này:

         - Arial: Font chữ này biểu hiện sự nghiêm túc, thường được mặc định trong phần mềm PP nên khi dùng nó không phải thay đổi gì. Nhưng nếu viết nghiêng thì Font này không được đẹp mắt.                                                                         

Hình 5:  Phối màu

         - Times New Roman: Muốn dùng font này, sau khi viết cần chuyển từ Arial sang Time New Roman, hơi mất thời gian. Song, font chữ này đẹp, kể cả khi để nghiêng.

    Chú ý: Nên dùng WordArt để viết đề bài hoặc tiêu đề lớn (xem mục d)..

        b) Cỡ chữ: Mục đích của việc chiếu các slide lên màn ảnh là để người dự đọc nội dung chính được viết trên đó, cho nên cần phải đảm bảo để người ngồi ở hàng ghế cuối cùng cũng đọc được hết chữ. Theo tính toán, chiều cao (kích thước) chữ trên màn hình có tỉ lệ không nhỏ hơn 1/150 (so với khoảng cách đến người xa nhất). Ví dụ, nếu người xem ngồi cách màn hình 5 m, chữ trên màn hình phải cao ít nhất 3,3 cm. Tất nhiên, nếu đặt máy chiếu ra xa màn hình thì chữ sẽ được phóng lớn lên, song, khi đó độ nét của hình và chữ cũng giảm theo. Đối với máy thông thường, trong khoảng cách giữa máy chiếu và màn hình từ 2,5m dến 5m (không nên xa hơn). Đó là nói về mặt lí thuyết. Trong thực tế, có nhiều lí do để ta có thể quyết định cỡ chữ, như:lớp đông HS (quá 40 người), độ phân giải của máy, nội dung nhất thiết chỉ thể hiện trong một trang nhưng lại quá nhiều chữ (hoặc ngược lại). Cho nên người thiết kế phải tự quyết định cỡ chữ cho phù hợp để bài giảng đạt yêu cầu cả cho người thiết kế lẫn người học. Nếu không phải là đề mục của bài thì nên dùng cỡ chữ 24 (trường hợp bất khả kháng, phải viết nhiều chữ trên một trang thid có thể nhỏ hơn) và lớn nhất là 28, 32. Chữ nhỏ hơn 20, đặt máy gần sẽ nhỏ, đặt máy xa thì mờ, cả hai trường hợp đều khó đọc. Chữ lớn, tất nhiên dễ đọc song cũng không nên dùng cỡ quá lớn. Có hai lí do: Thứ nhất, thị trường của mắt bị phân tán, cản trở nhận thức của người đọc; Thứ hai, cũng cần sự tập trung nội dung ít nhất là của một đề mục vào một trang PP để HS theo dõi bài được tốt (xem mục 2.d).

        c) Số chữ trên một trang trình chiếu:  Vấn đề này cũng cần lưu ý. Nói là dùng cỡ  chữ tối thiểu là 20 nhưng không có nghĩa là cho phép viết đầy kín trang PP. Thông thường, chữ quá nhiều thì người ta sẽ ít tập trung đọc hoặc đọc không hết, thậm chí có thể đọc nhầm hàng. Cho nên về nguyên tắc, không nên viết quá nhiều hàng trên trang PP, mỗi hàng không nên quá nhiều chữ (trừ trường hợp bất khả kháng). Để khắc phục điều đó, cũng như viết trên bảng đen, và để các trang trình chiêú phải chứa đủ nội dung cơ bản của bài học, không nhất thiết phải viết nhiều, viết nguyên câu, đầy đủ như trong SGK, có thể làm như sau:

          - Thay vì viết nguyên câu, ta chọn từ khóa hoặc cụm từ khóa cho chính xác để đưa lên màn hình thay cho câu ấy.                                        

           - Nếu không có gì đặc biệt, trên mỗi trang nên có khoảng từ 10 đến 15 dòng, mỗi dòng không quá 10 chữ để trang trình chiếu được tập trung và sáng sủa.

        Chú ý: Cùng một cỡ chữ nhưng chữ Arial lớn hơn Tims New Roman 1 bâc.                                                                                                                     

        d/ Việc sử dụng WordArt: Phần mềm này cho phép dùng chữ để trang trí, làm đẹp trang PP. Có một số tác dụng của WordArt như sau:

       - Viết đầu đề bài học – thường dùng trang riêng biệt. Chú ý không chọn những mẫu quá cầu kì hoặc khó đọc.

         - Viết trong khuôn hình vẽ (dạng cong)

       - Trang trí nền cho trang trình chiếu: Chọn mẫu chữ (WordArt) thích hợp có ý nghiwax nào đó mà mình muốn, tô màu ít tương phản với màn hình để không hưởng đến nội dung viết trên trang ấy, phóng to trên cả màn hình làm nền (Background- hình 4) .  Có thể trang trí chữ theo chiều dọc khi cần thiết (hình 5)

      Chú ý: Giống như dùng màu hoặc các effect, khi dùng WordArt, không nên lạm dụng và cũng không cầu kì làm phân tán sự chú ý của HS. Ngoài ra, cần chú ý, sau khi viết chữ vào trang PP, cần chỉnh màu sao cho phù hợp và rõ (chọn đối tương, click chuột  phải, chọn Format Ojbect chọn Colors and Lines).

3.3. Việc sử dụng các hiệu ứng (Effect) trên trang trình chiếu:

       Đặc sắc của phần mềm PPt là sự phong phú của các hiệu ứng (các kiểu cho xuất hiện trang trình chiếu – Animation Schemes, các kiểu xuất hiện chữ, hình - Custom Animation ..). Song sử dụng chúng cũng tùy trường hợp, nhất là các kiểu xuất hiện chữ. Có thể như sau:                                                                            

         Nếu là báo cáo trong Hội thảo, Hội nghị, cần  hạn chế sử dụng các effect “quay lộn”, “bay nhảy” vì chúng không thích hợp với không khí nghiêm túc, khẩn trương của hội nghị. Đối với bài giảng lại càng phải giữ nghiêm túc như vậy. Vấn đề này đã được đề cập ở trên. Các effect vui mắt không đúng lúc sẽ gây thích thú cho các em nhưng không phải                                                 

với nội dung bài giảng mà là với phần mềm của máy tính! Cho nên chỉ nên sử dụng các effect vừa phải, đảm bảo ở mức đủ sinh động:

        - Nên dùng một số kiểu cho màn hình xuất hiện (Animation Schemes): Grow and exit, Boumerang and exit, Title arc, Compress, Big title, Unfold, Rise up, Bounce, Ellipse motion, Float.  Mỗi bài giảng nên dùng một kiểu thống nhất.

      Chú ý: Mỗi kiểu cho xuất hiện trang trình chiếu đều có hiệu ứng mặc nhiên cho xuất hiện chữ của trang ấy. Nếu thích thì để, nếu muốn đổi thì sang phần Custom Animation, xoá bỏ hiệu ứng này và thiết kế hiệu ứng theo ý muốn. Nên đề nhan đề hoặc một vấn đề nào đó trên cùng của trang cùng xuất hiện với màn hình (không cho hiệu ứng hàng chữ đó). Tránh tình trang khi chuyển trang thì xuất hiện màn hình trắng một cách vô nghĩa và mất thời gian.

        - Các kiểu xuất hiện chữ (Custom Animation) thì nên sử dụng hạn chế ở một vài effect như: Box, Diamond, Rise up, Ease In hoặc những chức năng tương tự. Chú ý, cho thực hiện nhanh để không mất thời gian và nhàm chán (chọn Fast hoặc Very Fast trong ngăn Speed).

3.4. Sử dụng các trang PPt kết hợp các hoạt động dạy và minh hoạ:

         Đây cũng là một ưu thế tuyệt đối của PPt mà chiếc bảng thông thường không thể làm được. Nếu có chăng thì người GV phải chuẩn bị trước các bản vẽ trên giấy khổ lớn hoặc băng, đĩa hình (hoặc phim) để hỗ trợ thêm cho nội dung giảng.

         Trong bài giảng, nhất là bài giảng có sử dụng các PPDH tích cực, giáo viên cần mở rộng nội dung ra thực tế (bằng hình ảnh, phim), cần cập nhật thông tin hoặc chèn các câu hỏi, hướng dẫn thảo luận…trong khi vẫn phải để nội dung bài giảng trên trang PPt phát triển liên tục, HS dễ theo dõi và ghi được bài. Có nhiều cách để ngườì thiết kế thực hiện điêù đó:

         a/  Sử dụng “liên kết” (Hyperlink):

          * Ưu điểm:

                . Sử dụng tư liệu theo kiểu liên kết rất tiện lợi. Các thao tác với máy đơn giản, tư liệu xuất hiện nhanh, rõ.

                . Sử dụng thuận lợi cho các tư liệu là hình động hoặc Film

                . Có thể liên kết nhiều tư liệu, nhưng khi giảng, nếu thiếu thời gian thì ta có thể bỏ qua tư liệu đó cũng không sao, bởi vì nói chung các tư liệu không nằm trong một logic nào của bài giảng.

           * Nhược điểm:

                . Khi trình chiếu tư liệu thì bài giảng bị gián đoạn                                                  

                . Khi thiết kế bài giảng, tất cả các trang chủ và trang tư liệu đều phải được để trong một Folder thì mới sử dụng các trang minh hoạ được. Nếu muốn chuyển sang máy khác cần phải copy toàn bộ Folder ấy để chuyển đi.

                 . Dấu hiệu liên kết sẽ làm thay đổi                                                                          màu sắc kí tự đã thống nhất trong các trang trình chiếu (và có gạch dưới), không được thẩm mĩ.

          Chú ý:

           - Các tư liệu là hình động hoặc Film, cần được đóng gói với phần mềm xử lí động (Windows Media Player, Winamp…) để phòng khi đem bài giảng sang máy

khác thiếu phần mềm xử lí ấy.

           - Để tiện cho việc kiểm tra các

File tư liệu, nên đánh số trang trong bài giảng sử dụng tư liệu ấy phía sau tên File.

        b/ Chèn tư liệu bằng các hiệu ứng xuất hiện và xóa đi:

           Một số tư liệu không chiếm đầy trang PPt như: một hình vẽ, một trích dẫn, một câu hỏi, một yêu cầu HS làm việc (trao đổi nhóm về nội dung nào đó..), ta có thể chèn trực tiếp mà không cần dung liên kết. Cách làm: đưa hình hoặc khung chữ vào ngay chỗ cần chèn. Sử dụng hiệu ứng “xuất hiện” khi cần dùng tới tư liệu đó trong bài giảng. Khung chữ nên có một màu khác với màu nền đề HS chú ý tới nó. Sau khi dùng xong, cho lệnh exit để rút các tư liệu ra khỏi trang PPt. Để tư liệu không che phần nội dung đã giảng, nên chọn chỗ cho chúng xuất hiện. nội dung giảng tiếp theo sẽ được viết ngay vào đó.

* Ưu điểm: Dễ thực hiện và khi trình chiếu thì nó làm cho màn hình sinh động, tập trung được sự chú ý của HS (Xem mục 2)

* Nhược điểm lớn nhất của cách làm này là: nếu chèn vào một trang PPt nhiều tư liệu hoặc có tư liệu văn bản dài (một bài thơ chẳng hạn) thì công việc thiết kế sẽ rất phức tạp và dễ nhầm lẫn khi cho cái nào xuất hiện trước, cái nào sâu..vì tư liệu và nội dung ghi sẽ chồng chất lên nhau. Cho nên ở mục 2(e) chúng tôi có khái niệm “trang sạch”, nó được định nghĩa như sau: “Trang sạch” là trang chứa nội dung bài giảng mà không có các hiệu ứng và tư liệu chèn.

        c/ Sử dụng các trang có cửa sổ trong  trong Slide Layouts để minh họa:

           Kiểu này cho phép chúng ta đưa tư liệu minh hoạ trực tiếp vào trang trình chiếu (các cưa sổ) khi cần. Chèn vào lúc nào là tuỳ thuộc vào người thiết kế.

           * Ưu điểm:

               . HS có thể theo dõi nội dung bài  liên tục vì tư liệu chỉ chèn vào vào “cửa sổ”.

               . Khi chuyển máy, không phải đóng gói vì mọi thông tin đều nằm trong File PPt.             

               . Có thể chồng chập nhiều hình trên một trang PPt để khi chiếu, các tư liệu được sử dụng liên tục (cho xuất hiện rồi exit, xuất hiện minh họa khác…).

            * Nhược điểm:

               . Người thiết kế phải tốn nhiều thao tác trên máy hơn nên rất dễ nhầm lẫn hình và thứ tự xuất hiện.

                . Khi in trang trình chiếu phát cho HS (hoặc cử toạ) thì tất cả các tư liệu minh hoạ trong một trang đều được in ra. Nếu chèn nhiều tư liệu thì chúng sẽ bị chồng lên nhau.

                . Các ô cửa sổ chiếm nhiều diện tích màn hình

                . Đối với hình động hoặc Film thì các thao tác còn phức tạp hơn. Trong trường hợp này , nên dùng Hyper Link.

         Đối với những người có kĩ thuật máy tính cao, họ có thể dùng nhiều thủ thuật trình chiếu phức tạp hơn. Ở đây, chúng tôi trình bày vài cách làm cơ bản, chủ yếu là để phù hợp với trình độ chung của GV (những người có kiến thức tối thiểu về PPt) có thể thiết kế một bài giảng bằng PP không cầu kì nhưng hấp dẫn và dạy học bằng máy tính có hiệu quả, . Chắc chắn rằng, khi chúng ta đã thiết kế nhiều giáo án rồi thì mỗi cá nhân sẽ có đòi hỏi tất yếu là làm sao cho giáo án mỗi ngày một phong phú hơn, hay hơn. Sẽ có hai hướng để cải tiến giáo án cho hay hơn. Hướng thứ nhất phải tích cực tìm tòi, tham khảo tài liệu để có nhiều tư liệu đưa vào giáo án, hướng thứ hai là nghiên cứu thêm các kĩ thuật trong máy tính để ứng dụng cho những trường hợp có ý tưởng về PPDH phức tạp hơn. Việc nghiên cứu các phần mềm mô phỏng các thí nghiêm hoặc các  hiện tượng trên máy tính cũng là vấn đề phải làm và đó cũng là những “tư liệu” tự tạo làm cho giáo án của chúng ta hấp dẫn hơn. Chúng tôi cũng phải nhắc lại một yêu cầu quan trong, tiêu chí cho cả bài viết này, đó là, sự hấp dẫn của một giáo án dạy học bằng PP phải được bắt nguồn từ nội dung trình chiếu là chủ yếu, không phải là sự hấp dẫn của những trang quảng cáo hoặc những trang tiêu đề trên truyền hình.

 

BÁO CÁO TỔNG QUAN VỀ ỨNG DỤNG CNTT TRONG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Huỳnh Văn Hoa – Giám đốc

Sở Giáo dục và Đào tạo Đà Nẵng

 

 

Đà Nẵng là một thành phố trực thuộc trung ương, một trong ba thành phố lớn nằm trong dự án phát triển Công nghệ thông tin – Truyền thông tại Việt Nam đã được Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 777/QĐ-TTg ngày 10 tháng 8 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ. Trong thời gian qua, thành phố Đà Nẵng đã quan tâm đầu tư đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông trong các hoạt động Giáo dục và Đào tạo.

 

I. Tổng quan tình hình ứng dụng CNTT trong Giáo dục và Đào tạo

 

            1. Về công tác chỉ đạo của Sở Giáo dục và Đào tạo:

            - Sở Giáo dục và Đào tạo đã tham mưu Uỷ ban Nhân dân thành phố, đề nghị Bộ Nội vụ cho phép thành lập phòng Công nghệ thông tin (CNTT) thuộc Sở để tăng cường chỉ đạo công tác ứng dụng CNTT trong các hoạt động của ngành.

            - Sở Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng kế hoạch ứng dụng và phát triển CNTT trong đó chú trọng các nội dung: nâng cao trình độ CNTT cho đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý Giáo dục, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị CNTT, chỉ đạo tăng cường ứng dụng CNTT trong công tác quản lý giáo dục, sử dụng thiết bị CNTT trong hoạt động dạy – học, làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục.

- Chủ động xây dựng kế hoạch và triển khai các hoạt động chuẩn bị cho năm học CNTT 2008-2009. Ngành Giáo dục và Đào tạo thành phố Đà Nẵng là đơn vị đầu tiên trong toàn quốc phát động năm học CNTT trong toàn ngành (14/5/2008), làm cơ sở để các đơn vị, trường học tăng cường bồi dưỡng trình độ ứng dụng CNTT cho đội ngũ cán bộ, giáo viên và đầu tư cơ sở hạ tầng CNTT cho năm học mới.

 

            2. Về nâng cao trình độ tin học cho đội ngũ CBQL và GV

- Xây dựng kế hoạch đào tạo chuẩn hóa và nâng chuẩn đội ngũ giáo viên tin học của ngành. Đến nay, ngành  đã có 100% giáo viên tin học đạt chuẩn, trong đó nhiều giáo viên có trình độ Thạc sĩ.

- Tổ chức bồi dưỡng kiến thức tin học cho cán bộ, giáo viên:   

+ Bên cạnh việc cử giáo viên tham gia các lớp đào tạo của Sở Giáo dục  và Đào tạo, các trường học đã chủ động tổ chức bồi dưỡng giáo viên về tin học căn bản, truy cập Internet và xây dựng bài giảng điện tử.

+ Phối hợp với Tổ chức Giáo dục Intel Việt Nam tổ chức các lớp bồi dưỡng giáo viên theo chương trình dạy học của Intel, bồi dưỡng cho gần 500 giáo viên cốt cán về chương trình dạy học Intel và tiếp tục bồi dưỡng nhân rộng cho hơn 5000 giáo viên trong toàn ngành về chương trình này nhằm tăng cường ứng dụng CNTT để đổi mới phương pháp dạy học.

            + Tổ chức các lớp bồi dưỡng kỹ năng về quản trị mạng, quản lý phòng máy tính cho 100% cán bộ phòng máy các trường trực thuộc Sở để tăng cường hiệu quả sử dụng của các thiết bị CNTT được trang bị.

 

            3. Đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị, kết nối internet

- Sở Giáo dục và Đào tạo đã tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị CNTT và mua sắm các phần mềm phục vụ quản lý và dạy học.

            - Chỉ đạo các trường TCCN đầu tư trang bị phòng CNTT; huy động các nguồn kinh phí, kêu gọi các nguồn tài trợ để trang bị máy tính và các thiết bị hỗ trợ cho các trường mầm non, phổ thông. Đến đầu năm học 2008-2009, 100% trường TCCN, THPT trên địa bàn thành phố đã có trên 02 phòng máy vi tính nối mạng (tối thiểu 25 máy tính), 80% trường THCS và 40% trường Tiểu học có phòng máy tính.

- Chỉ đạo các đơn vị, trường học kết nối Internet đường truyền tốc độ cao (ADSL) để trao đổi thông tin quản lý và khai thác các thông tin phục vụ dạy học. Hiện nay có 100% trường THPT, THCS, trung tâm GDTX và hơn 50% trường Tiểu học kết nối Internet ADSL, chỉ còn một số ít trường kết nối bằng modem quay số.

            - Tham mưu Uỷ ban Nhân dân thành phố đầu tư để triển khai phần mềm mã nguồn mở cho 10 trường THCS, THPT, đầu tư xây dựng trường THPT chuyên Lê Quý Đôn theo mô hình “trường học điện tử” với tổng kinh phí gần 17 tỉ đồng và thí điểm xây dựng trường THPT Hoàng Hoa Thám hướng tới mô hình này.

 

            4. Ứng dụng CNTT trong dạy học, quản lý và sử dụng email QLGD

            - Triển khai thực hiện tốt email quản lý giáo dục do Bộ Giáo dục và Đào tạo cung cấp, xây dựng hệ thống email tên miền @danang.edu.vn, thực hiện chuyển các văn bản, biểu mẫu qua mạng tới các đơn vị và nhận báo cáo, công văn của các đơn vị qua thư điện tử của Văn phòng và các phòng Sở.

- Ứng dụng tốt các phần mềm máy tính phục vụ cho công tác quản lý các hoạt động của ngành (Kế toán, thống kê, quản lý nhân sự, quản lý phổ cập Giáo dục, quản lý thi…)

- Đầu tư xây dựng các phần mềm phục vụ công tác quản lý của ngành; chỉ đạo các trường học xây dựng các phần mềm hỗ trợ công tác quản lý và đầu tư trang bị các phần mềm dạy học.

            - Khuyến khích các phòng Giáo dục và Đào tạo, các trường học xây dựng website phục vụ thông tin và quản lý, hiện nay 3/7 phòng Giáo dục và Đào tạo đã có website riêng.

 

            5. Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong các hoạt động

            - Đăng tải các thông tin hoạt động, các văn bản chỉ đạo, ngân hàng đề thi, kết quả các kỳ thi (tốt nghiệp, thi học sinh giỏi, kiểm tra cấp chứng chỉ tin học, ngoại ngữ các cấp độ) trên website của ngành, hàng năm phục vụ hơn 300 nghìn  lượt người truy cập.

            - Chỉ đạo triển khai nghiêm túc việc dạy Tin học chính khóa ở các trường THPT, dạy tự chọn môn Tin học ở các trường THCS, Tiểu học theo chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

- Tổ chức các hội thi “giáo án điện tử” các bộ môn và “giáo án điện tử an toàn giao thông” ở cấp Tiểu học và đã xây dựng được bộ sưu tập các giáo án có chất lượng, triển khai để các trường tham khảo. Phát động phong trào, bồi dưỡng học sinh tham dự cuộc thi Tin học Trẻ toàn quốc hàng năm và đều đạt giải cao (trong năm 2008 đoạt 03 giải nhất phần mềm sáng tạo và nhiều giải phần chung, học sinh Nguyễn Bá Cảnh Sơn đoạt huy chương bạc Olympic Tin học Quốc tế)

 

II. Định hướng ứng dụng và phát triển CNTT năm học 2008- 2009

Để chuẩn bị cho việc năm học 2008-2009 đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo chọn là “Năm học Công nghệ thông tin”, Sở Giáo dục và Đào tạo Đà Nẵng xác định các nhiệm vụ ứng dụng CNTT, bao gồm:

- Tiếp tục củng cố và mở rộng việc đưa tin học vào các ngành học, bậc học; nâng cao chất lượng dạy học tin học trong nhà trường;

- Tăng cường ứng dụng CNTT vào việc đổi mới phương pháp dạy học; sử dụng rộng rãi và có hiệu quả các phần mềm hỗ trợ dạy học và quản lý;

- Huy động các nguồn lực đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị CNTT cho các đơn vị, trường học;

- Triển khai đồng bộ việc ứng dụng CNTT trong công tác quản lý các hoạt động toàn ngành, trước hết là triển khai việc họp qua mạng theo chỉ đạo của Cục CNTT, Bộ Giáo dục và Đào tạo;

- Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kiến thức CNTT cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên trong toàn ngành để nâng cao nhận thức, hoàn thiện kỹ năng về CNTT;

- Triển khai nhân rộng phần mềm mã nguồn mở cho các trường THCS, THPT và trường trực thuộc.

- Xây dựng trường học hướng tới mô hình “Trường học điện tử” ở các cấp học, bậc học; website tư liệu dạy học dùng chung và tăng cường khai thác sử dụng e-learning trong dạy-học.

- Tổ chức tuần lễ CNTT với các hoạt động thiết thực, hưởng ứng năm học CNTT do Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động.

III. Các ý kiến đề xuất:

- Đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo chọn và chỉ đạo thí điểm trường học điện tử, làm mô hình để các đơn vị học tập và đầu tư xây dựng.

- Đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo giới thiệu các phần mềm, tư liệu dạy học, sách điện tử để các đơn vị có cơ sở mua sắm, trang bị, đồng thời, ban hành quy định về tiêu chuẩn, mẫu bài giảng điện tử thống nhất cho các bậc học.

- Đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành các văn bản chỉ dạo, hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng e-learning trong dạy học để các Sở Giáo dục và Đào tạo có cơ sở để triển khai

- Đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo sớm cung cấp phần mềm quản lý trường học với sự đồng bộ dữ liệu từ Bộ Giáo dục và Đào tạo đến Sở và đến các trường học.